05:06 BNT Thứ ba, 21/09/2021

Nội dung chính



Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 29

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 27


Hôm nayHôm nay : 1649

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 325735

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 14107935

Trang nhất » Tin Tức » Thông tin dịch bệnh COVID-19

Một số quy định của pháp luật về xử lý vi phạm liên quan đến phòng, chống COVID-19

Thứ tư - 18/08/2021 11:36
A. XÁC ĐỊNH TỘI DANH LIÊN QUAN ĐẾN PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH COVID-19 THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Ngày 30-3-2020, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn 45/TANDTC-PC về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Theo đó, hướng dẫn áp dụng pháp luật và tổ chức xét xử đối với một số hành vi vi phạm pháp luật phổ biến có đủ yếu tố cấu thành tội phạm trong phòng, chống dịch bệnh như sau:

* Về tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người[1]

Người đã được thông báo mắc bệnh; người nghi ngờ mắc bệnh hoặc trở về từ vùng có dịch bệnh COVID-19  đã được thông báo cách ly thực hiện một trong các hành vi sau đây gây lây truyền dịch bệnh COVID-19 cho người khác thì bị coi là trường hợp thực hiện “hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người” và bị xử lý về tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người:

- Trốn khỏi nơi cách ly;

- Không tuân thủ quy định về cách ly;

- Từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly;

- Không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối.

Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người  được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 240 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Người phạm tội này bị phạt tiền từ 50 triệu đến 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

* Về tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người

Người chưa bị xác định mắc bệnh COVID-19 nhưng sống trong khu vực đã có quyết định cách ly, quyết định phong tỏa thực hiện một trong các hành vi sau đây gây thiệt hại từ 100 triệu đồng trở lên do phát sinh chi phí phòng, chống dịch bệnh thì bị xử lý về tội vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người:

- Trốn khỏi khu vực bị cách ly, khu vực bị phong tỏa;

- Không tuân thủ quy định cách ly;

- Từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly;

- Không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối.

Chủ cơ sở kinh doanh, người quản lý cơ sở kinh doanh dịch vụ (như quán ba, vũ trường, karaoke, dịch vụ mát-xa, cơ sở thẩm mỹ...) thực hiện hoạt động kinh doanh khi đã có quyết định tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh để phòng chống dịch bệnh Covid-19 của cơ quan, người có thẩm quyền, gây thiệt hại từ 100 triệu đồng trở lên do phát sinh chi phí phòng, chống dịch bệnh thì bị xử lý về tội vi phạm quy định về an toàn ở nơi đông người.

Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người được quy định tại Điều 295 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tùy tính chất và mức độ vi phạm, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 12 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

* Về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông

Người có hành vi đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, thông tin xuyên tạc về tình hình dịch bệnh COVID-19, gây dư luận xấu thì bị xử lý về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông.

Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông được quy định tại Điều 288 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tùy tính chất và mức độ vi phạm, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đến 01 tỷ đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 07 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đến 200 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

* Về tội làm nhục người khác

Người có hành vi đưa trái phép thông tin cá nhân, bí mật đời tư xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của nhân viên y tế, người tham gia phòng, chống dịch bệnh Covid-19, người mắc bệnh, người nghi ngờ mắc bệnh COVID-19 thì bị xử lý về tội làm nhục người khác.
Tội làm nhục người khác được quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tùy tính chất và mức độ vi phạm, người phạm tội có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10 triệu đến 30 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 05 năm. Ngoài ra, Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

* Về tội đầu cơ

Người có hành vi lợi dụng sự khan hiếm hoặc tạo sự khan hiếm giả tạo trong tình hình dịch bệnh COVID-19 để mua vét hàng hóa đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố là mặt hàng bình ổn giá hoặc hàng hóa được Nhà nước định giá nhằm bán lại để thu lợi bất chính thì bị xử lý về tội đầu cơ.

Tội đầu cơ được quy định tại Điều 196 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tùy tính chất và mức độ vi phạm, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đến 05 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 15 năm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20 triệu đến 200 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Pháp nhân thương mại phạm tội thì tùy tính chất và mức độ vi phạm có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đến 09 tỷ đồng. Ngoài ra, pháp nhân thương mại còn có thể cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

* Về tội chống người thi hành công vụ

Người có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 thì bị xử lý về tội chống người thi hành công vụ.

Tội chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tùy tính chất và mức độ vi phạm, người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 07 năm.

B. NHỮNG QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH COVID - 19

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống dịch bệnh COVID-19 được quy định tại Nghị định 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế. Ngoài ra, còn có một số hành vi vi phạm hành chính liên quan đến công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 được quy định trong một số Nghị định khác có liên quan, như: Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; Phòng cháy và chữa cháy; Phòng, chống bạo lực gia đình; Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử; Nghị định 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hoá đơn; Nghị định 49/2016/NĐ-CP ngày 27/5/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hoá đơn; Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Nghị định 55/2021/NĐ-CP ngày 24/5/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Một số hành vi vi phạm hành chính thường gặp như sau:

1. Hành vi không đeo khẩu trang nơi công cộng

Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cá nhân (từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có hành vi không thực hiện biện pháp bảo vệ cá nhân đối với người tham gia chống dịch và người có nguy cơ mắc bệnh dịch theo hướng dẫn của cơ quan y tế.

2. Hành vi không khai báo về dịch bệnh

Khoản 3 Điều 7 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân (từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có một trong các hành vi sau:

- Che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời hiện trạng bệnh của bản thân hoặc của người khác;

- Cố ý khai báo, thông tin sai sự thật về bệnh.

3. Hành vi từ chối hoặc trốn tránh cách ly y tế

Điểm b khoản 2 Điều 11 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân (từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có hành vi từ chối hoặc trốn tránh việc áp dụng quyết định cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ngoài ra, còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là bị buộc thực hiện việc cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế.

4. Hành vi không thực hiện xét nghiệm theo yêu cầu của cơ quan y tế có thẩm quyền trong quá trình thực hiện giám sát dịch bệnh COVID-19

Điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối cá nhân (từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối tổ chức) khi có hành vi không thực hiện xét nghiệm theo yêu cầu của cơ quan y tế có thẩm quyền trong quá trình thực hiện giám sát bệnh truyền nhiễm.

5. Hành vi vi phạm quy định về hạn chế, cấm tập trung đông người

- Điểm c khoản 3 Điều 12 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân (từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có hành vi không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người. 

- Điểm b khoản 5 Điều 12 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với cá nhân (từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có hành vi không thực hiện quyết định cấm tập trung đông người tại vùng đã được ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch.

6. Hành vi vi phạm về đình chỉ cở sở kinh doanh dịch vụ ăn uống

Điểm a, điểm c khoản 3 Điều 12 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP quy định:  Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân (từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có một trong các hành vi sau đây:

- Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp tạm đình chỉ hoạt động của cơ sở dịch vụ ăn uống công cộng có nguy cơ làm lây truyền bệnh dịch tại vùng có dịch;
- Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại nơi công cộng.

7. Hành vi vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh trong phòng bệnh (Khoản 1, khoản 2 Điều 6 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP)

- Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với cá nhân (từ 400.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có hành vi không thực hiện biện pháp bảo đảm vệ sinh nơi ở, nơi công cộng, phương tiện giao thông, nơi chứa chất thải sinh hoạt để phòng ngừa bệnh truyền nhiễm.

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cá nhân (từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có hành vi không thực hiện biện pháp bảo đảm vệ sinh nơi ở, nơi công cộng, phương tiện giao thông, nơi chứa chất thải sinh hoạt làm phát sinh, lây lan bệnh truyền nhiễm.

8. Hành vi đưa thông tin sai sự thật

- Đưa thông tin trên mạng xã hội: điểm a khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân (từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Ngoài ra, hành vi này còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật.

- Đưa thông tin trên trang thông tin điện tử: điểm a khoản 3 Điều 99 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với cá nhân (từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có hành vi đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Ngoài ra, hành vi này còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc gỡ bỏ đường dẫn đến thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn, thông tin vi phạm pháp luật; buộc thu hồi hoặc buộc hoàn trả tên miền do thực hiện hành vi vi phạm.

9. Hành vi vi phạm quy định về công khai thông tin về giá hàng hóa, dịch vụ (Điều 12 Nghị định 109/2013/NĐ-CP; Khoản 5 Điều 1 Nghị định số 49/2016/NĐ-CP)

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân (từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có một trong các hành vi sau đây:

+ Không niêm yết giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm phải niêm yết giá theo quy định của pháp luật;

+ Niêm yết giá không rõ ràng gây nhầm lẫn cho khách hàng.

Nếu vi phạm nhiều lần; tái phạm thì bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cá nhân (từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 triệu đồng đối với tổ chức).

- Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân (từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có hành vi bán cao hơn giá niêm yết hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân định giá; Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với cá nhân (từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có hành vi bán cao hơn giá niêm yết đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục bình ổn giá, hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện. Ngoài ra, hành vi này còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc trả lại cho khách hàng số tiền đã thu cao hơn giá niêm yết, trường hợp không xác định được khách hàng để trả lại thì nộp vào ngân sách nhà nước.

10. Hành vi cản trở, chống lại việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ (Điều 20 Nghị định 167/2013/NĐ-CP)

- Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với cá nhân (từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có hành vi môi giới, tiếp tay, chỉ dẫn cho cá nhân, tổ chức vi phạm trốn tránh việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ.

- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cá nhân (4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có một trong các hành vi sau đây:

+ Cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ;

+ Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thi hành công vụ;

+ Xúi giục, lôi kéo hoặc kích động người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ.

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân (từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức) khi có một trong những hành vi sau đây:

+ Dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để chống người thi hành công vụ;

+ Gây thiệt hại về tài sản, phương tiện của cơ quan nhà nước, của người thi hành công vụ.
 

[1] Điều 240 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người.

Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 



Thăm dò ý kiến

Đánh giá của bạn về giao diện trang này?

Rất đẹp

Đẹp

Bình thường

Xấu

Rất xấu

Đăng nhập thành viên